Tính tốc độ tuần hoàn bể (lần/giờ) và thời gian lưu nước từ thể tích bể và lưu lượng bơm. Thiết yếu cho thiết kế hệ thống RAS và tính toán công suất xử lý nước.
Tốc độ lưu chuyển, bao nhiêu lần lọc đẩy hết thể tích hồ mỗi giờ, là một trong số ít thông số cho phép so sánh các bộ lọc rất khác nhau trên cùng một trục. Canister 1000 L/giờ đem lại 5x trên 200 L nhưng chỉ 2x trên 500 L. Máy tính này chuyển thể tích hồ và lưu lượng lọc (L/giờ) thành lưu chuyển mỗi giờ và thời gian lưu trung bình tính bằng phút, hai con số thực sự dự đoán hành vi hồ.
Lưu chuyển = lưu lượng ÷ thể tích; thời gian lưu = nghịch đảo × 60. Máy tính trả cả hai và so với hướng dẫn cộng đồng: thủy sinh 4-5x để không làm rối cây, cộng đồng 5-8x, cá to bẩn 8-10x, rùa và cá vàng 10x+. Lưu lượng thực thường 50-70% danh nghĩa sau khi tính media, ống và lưới hút; để dự trữ an toàn.
Nhập dung tích hồ và lưu lượng tổng của hệ thống. Máy tính trả về số lần lưu chuyển mỗi giờ (lưu lượng ÷ dung tích) và thời gian lưu trú tính bằng phút (60 ÷ số lần lưu chuyển).
Hồ nuôi lớn RAS thường nhắm 1–3 lần lưu chuyển mỗi giờ; hệ thống cá hồi và tôm thâm canh dùng 4–6. Lưu chuyển nhanh hơn cải thiện loại bỏ chất rắn nhưng tốn năng lượng bơm hơn.
Thời gian lưu trú là thời gian trung bình một phân tử nước ở trong hồ. Lưu trú ngắn hơn nghĩa là nước tươi hơn nhưng ít thời gian cho chất thải lắng. Cân bằng thiết kế thu chất rắn với tốc độ lưu chuyển.
Hầu hết bể nuôi thương phẩm RAS nhắm 1–3 lần luân chuyển mỗi giờ. Bể nuôi cá hồi thâm canh và hệ thống tép dùng 4–6 lần. Bể ấu trùng và cá bố mẹ thường chạy thấp hơn ở 0,5–1 để tránh stress cá non. Người chơi hồ cá thú cưng thường nhắm 4–10 lần thể tích bể qua lọc mỗi giờ.
Luân chuyển cao hơn nghĩa là nước qua lọc sinh học và lọc cơ học nhiều lần hơn trong một đơn vị thời gian, cải thiện sự ổn định chất lượng nước nhưng tốn nhiều điện bơm hơn. Bể luân chuyển quá thấp tích lũy chất thải hòa tan giữa các chu kỳ; quá cao có thể gây dòng chảy mạnh làm stress cá.
Thời gian lưu trú là thời gian một phần tử nước ở trong bể trước khi được bơm ra. Tính bằng thể tích bể chia lưu lượng bơm. Bể 1000 lít với lưu lượng 2000 lít/giờ có thời gian lưu trú 30 phút — trung bình một nửa lượng nước được trao đổi mỗi 30 phút.
Đến một mức độ nhất định. Luân chuyển cao cải thiện loại bỏ chất rắn lơ lửng và tiếp xúc lọc sinh học, nhưng vượt quá 5–6 lần/giờ, lợi ích giảm dần trong khi chi phí bơm tăng mạnh. Hiệu quả bẫy chất rắn còn phụ thuộc vào thiết kế ống xả và bể lắng, không chỉ tốc độ dòng chảy.
Định cỡ theo nhu cầu cao điểm — lưu lượng tối đa cần trong vận hành bình thường, cộng thêm 20% dự phòng. Máy bơm biến tần (VFD) sau đó chạy ở lưu lượng ổn định hầu hết thời gian và tăng tốc chỉ khi cần thiết, tiết kiệm điện đáng kể so với máy bơm tốc độ cố định quá cỡ.